Giới thiệu Gia phổ tiểu chi ĐẶNG VĂN
Dẫn luận này không có mục đích làm lời mở đầu cho một cuốn gia phổ như thường lệ. Công việc đó đã được các bậc tiền bối của chúng ta thực hiện một cách chu đáo và trân trọng dưới dạng một bài “Tựa phổ ký” tại gia phổ của một đại tôn, trung tôn hay chi tôn họ Đặng ở một xã hay một huyện khác, hoặc dưới dạng một bài “Thuật ký” khi ông cha chúng ta phát hiện được một điều gì có thể, một phần nào, làm sáng tỏ thêm nguồn gốc tổ tiên chúng ta.
Dẫn luận này giới thiệu đề cương biên tập gia phổ tiểu chi Đặng Văn, một nhánh nhỏ của trung tôn Đặng Quang thuộc họ Đặng – Nho Lâm (Diễn Châu, Nghệ An). Các trung tôn Đặng Trọng, Đặng Quang, Đăng Duy, Đặng Sỹ … đều còn ở quê nhà. Riêng con cháu của tiểu chi Đặng Văn thì ngày nay, do hoàn cảnh lịch sử, đã và đang phiêu bạt lưu lạc khắp nơi trong nước, từ Bắc chí Nam, và ngoài nước, từ Á, Úc sang Âu, Mỹ.
Dẫn luận này mong muốn giúp con cháu thấy rõ vì sao cần thiết phải biên tập gia phổ chi tôn Đặng Văn mặc dầu chúng ta cư trú rất phân tán, rất xa cách nhau và cực kỳ khó khăn có cơ hội và điều kiện gặp gỡ, tụ họp bên nhau như xưa kia.
Mở đầu gia phổ là những bài viết quan trọng, theo thứ tự thời gian, của cha ông chúng ta, nói lên sự trân trọng của người đời trước đối với việc ghi chép gia phổ, tức là lịch sử của dòng họ qua các thế hệ và lòng mong muốn của các cụ “Uống nước phải nhớ nguồn, yêu nòi chớ quên Tổ”, “Gốc tốt thì ngọn tươi”, làm cho đời sau biết rằng con cháu ngày càng thịnh vượng là do Tổ tiên tích đức lâu đời để lại cho. Đó là các bài:
1- Tựa phổ ký họ Đặng chi Thanh Tân (huyện Anh Sơn) do cụ Đặng Văn Giai viết năm 1858.
2- Tựa phổ ký họ Đặng chi Quang Trạch (huyện Diễn Châu) do cụ Đặng Khắc Cẩn viết năm 1870.
3- Thuật ký do cụ Đặng Quan Bỉnh (cố Tặng) Nho Lâm viết năm 1876.
4- Tựa phổ ký họ Đặng đại tôn Nho Lâm do cụ Đặng Quang Bỉnh (cố Tặng) viết năm 1888.
5- Thuật ký do cụ Đặng Văn Thuỵ (ông Tế Nho Lâm) viết khoảng năm 1890.
6- Gia phổ tân lục chí do cụ Đặng Văn Thuỵ (ông Tế Nho Lâm) viết năm 1912.
7- Tựa phổ ký họ Đặng chi Quảng Hà (Diễn Châu) do cụ Đặng Trọng Niên viết năm 1937.
8- Lời nói đầu gia phả họ Đặng đại tôn Nho Lâm – chữ quốc ngữ – do Đặng Văn Trình viết năm 1960.
Chi tiết các bài viết xem trong phần sau.
Những bài viết trên đây các cụ sưu tầm được tại từ đường họ Đặng nơi khác, mục đích để tìm hiểu vác mối liên quan giữa chi tôn này với chi tân kia. Một số bài nguyên tác bằng chữ Hán, được Đặng Văn Trình, dịch sang tiếng Việt, nay xin đưa vào gia phổ tiểu chi Đặng Văn làm tư liệu tham khảo.
Thời gian qua, các họ trong nước, như họ Hồ ở Quỳnh Lưu, họ Mạc ở Hải Dương, họ Lê ở Hưng Yên, họ Đặng ở Nam Định … và các nhánh họ Đặng Đình, Đặng Trần, Đặng Huy v.v… rải rác ở các tỉnh, đều đã cử ra các ban biên tập, sưu tầm tổ tích, soạn thành tộc phổ, lưu hành trong nội bộ từng dòng họ. Một số họ đã trải qua những biến động kinh hoàng, như tru di tam tộc, tiêu diệt gần hết, số con cháu còn sót lại phải dấu tên, đổi họ, lẩn trốn, phiêu bạt khắp nơi (như họ Mạc, họ Hồ, v.v…). Thế nhưng con cháu những dòng họ này cũng bỏ công sức, lần theo dấu vết, ngược dòng lịch sử, tìm ra tổ tích, viết lên được tộc phổ cho họ mình. Họ Đặng chúng ra không phải trải qua những biến cố như vậy, việc sưu tầm tổ tích không đến nỗi quá ư khó khăn, nhưng phải có lòng tự nguyện nhớ đên di huệ của tổ tông, phải có nhiệt tình, hằng tâm, hằng sản, có kiến thức thì mới đảm đương được công việc này có kết quả tốt. Chúng ta tha thiết mong rằng trong dòng họ chúng ra cũng sẽ hình thành được những ban biên tập như thế.
Chim có tổ, người có tông. Có trước mới có sau. Có trên mới có dưới. Đó là lẽ thường tình. Con người sinh ra ở đời, có nắm được các quy luật đơn giản này thì mới cân bằng được sinh hoạt tinh thần của mình, của gia đình mình và của thế hệ mai sau của mình. Đó là chỗ dựa tinh thần, là sức mạnh của con người. Người Công giáo, Phật giáo, Hồi giáo … có tín ngưỡng và giáo lý để sắp xếp cuộc sống theo các điều răn trong tôn giáo của họ. Chúng ta, chúng ta lấy việc thờ phụng tổ tiên, nuôi dưỡng truyền thống dân tộc, dòng máu làm chỗ dựa, làm sức mạnh, làm động cơ ứng xử trong cuộc sống hàng ngày: chăm chỉ làm ăn, học hành, tu nhân tích đức, nuôi dạy con cái theo phương châm “con hơn cha là nhà có phúc”, nếu gặp hoạn nạn thì “giấy rách phải giữ lấy lề”, không làm điều gì ô danh cha ông … Quên hoặc bỏ qua các quy luật này, chúng ta sẽ trở nên những kẻ mất gốc, sống không có lòng tin, “vô tiền khoáng hậu”, chẳng đoái hoài đến quá khứ mà cũng không có kỳ vọng gì đối với tương lai, “trên không chằng dưới không rễ”, coi thường tất cả, đạo lý cũng như tình người, mà chỉ nhìn, chỉ thấy những lợi ích thực dụng hiện tại, thoả mãn các dục vọng trước mắt, sống theo bản năng như mọi loài sinh vật khác.
Một nửa thế kỷ qua, đất nước chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, nhiều biến cố kinh hoàng … kéo theo những sai lầm đẫm máu, đảo lộn mọi nền móng đã tồn tại trong xã hội Việt Nam từ hàng ngàn năm nay: đó là các mối quan hệ gia đình, họ hàng rất gắn bó, đó là tình làng nghĩa xóm rất khăng khít đã bị phân huỷ cùng với sự đập phá đền chùa, nghè miếu, nhà thờ họ, nhà thánh hội văn, đình làng … những biểu hiện cụ thể của một nền văn hoá tuy lạc hậu nhưng khá vững vàng, giúp cho dân tộc ta đã tồn tại được sau ngót cả thiên niên kỷ thứ nhất bị phương Bắc đô hộ và đã chống chọi được với sự xâm lăng hung hãn của Tống, Nguyên, Minh … trong thiên niên kỷ thứ hai.
Tiểu chi Đặng Văn chúng ta đang là một tổ ấm, làm ăn sinh hoạt như mọi gia đình khác trong xã hội cũ, có phần cần kiệm hơn, chí cốt hơn, không hề có nợ máu với bà con trong làng xã mà còn có công đức ngày nay nhiều người vẫn nhắc đến, bỗng gặp cảnh tan đàn nát nghé, con cháu phiêu bạt, lưu lạc khắp mọi phương với hai bàn tay trắng, không nhà cửa, không quê hương, không của chìm, của nổi, đến chút nền đất nhà thờ tiểu chi Đặng Văn tại quê nhà ngày nay cũng không còn nữa. Thế nhưng, nhờ phúc ấm cha ông để lại, nhờ truyền thống dòng họ, chúng ta đã biết cố chí thì nên, giấy rách phải giữ lấy lề, anh em nuôi nhau, cha mẹ nuôi con, ông bà nuôi cháu, cần kiệm làm ăn, học hành, đến ngày nay, tuy không giàu sang phú quý, nhưng mọi nhà đều đàng hoàng, con cái học hành đến nơi đến chốn, không ai vào tù ra tội, làm điều nhơ nhuốc để cha ông phải hổ thẹn. Đó là công đức của lớp con cháu chi tôn Đặng Văn đời thứ 20, kế tục cho đời thứ 16 với can Đặng Quang Nghi, người thợ cả lò hông tuy làm nghề luyện sắt vất vả vẫn cố gắng nuôi con ăn học mở mang trí tuệ, đời thứ 17 với cố Đặng Quang Bỉnh, một thầy thuốc nghèo quyết chí đèn sách đến quá nửa đời người mới đỗ tú tài, đời thứ 18 mà ông Tế Đặng Văn Thuỵ là gương sáng ngời và đời thứ 19 với những tiêu biểu đáng kính là các bác Đặng Văn Oánh, Đặng Văn Hướng, Đặng Văn Dư.
Con cháu đời thứ 20 còn được tiếp thụ một phần nào những truyền thống tốt đẹp đó, nhờ vậy đã gầy dựng lại dòng họ tương đối tươi tốt, lẽ ra phải tan hoang, rã đám như bao nhiêu dòng họ khác. Nhưng rồi con cháu đời thứ 21, đời thứ 22 và các đời sau, liệu còn duy trì được cái đà “con hơn cha là nhà có phúc” nữa không? Nhất là đối với thời đại ngày nay, khi mà, ở phương Tây, ngay cả các nước công nghiệp phát triển, người ta vẫn giữ được các công trình văn hoá cổ xưa, vẫn duy trì các tập tục truyền thống mà họ cho là tốt đẹp, như ngày Mẹ (tháng 5), ngày Cha (tháng 6), ngày Ông, Bà và Người Già (tháng 9) …, thì ở nước chúng ta, vàng thau còn lẫn lộn, cũ mới, đúng sai, hay dở … chưa rạch ròi, các chuẩn mực cũ, các giá trị cũ đã vội vàng phế bỏ đi trong lúc chưa định hình được những chuẩn mực mới, những giá trị mới bằng thực tế khách quan, bằng thước đo thời gian, và con người đang chao đảo, nghiêng ngả trước những ngã năm, ngã bảy mà lịch sử hiện đại đã đặt ra cho họ. Sống thế nào? Giáo dục con cái ra sao? Để đi đến đâu? Dựa vào cái gì là cơ bản nhất để noi theo và định hướng cho cuộc sống của chính mình? của con cái mình? mà ứng xử cho cho hợp tình hợp lý trong mọi hoàn cảnh sinh hoạt đời thường? Hay là bịt mắt, che tai, đến đâu hay đó, mặc cho thế sự xoay vần? Đó là những vấn đề day dứt mà ai ai cũng phải nghĩ đến và không phải ai cũng tìm được cách giải đáp thoả đáng.
Người cháu xa đời viết những dòng này có suy nghĩ rằng điều cơ bản đó là truyền thống của dòng họ, là cái “gène” mà cha ông để lại cho chúng ta, chúng ta cần phải giữ lại, ghi lại cụ thể bằng cuốn gia phổ tiều chi Đặng Văn này. Mỗi chúng ta và con cháu chúng ra cần coi gia phổ như một cái gương để soi vào đó, tự xét mình, tự định hướng trong cuộc sống và tự mình viết tiếp các trang sau một cách xứng đáng.
Để đáp ứng được yêu cầu trên đây, gia phổ chi tôn Đặng Văn cần phải có một số cỉa tiến so với các bản gia phổ trước: cố gắng có thêm lời giải luận về thân thế, sự nghiệp và niên đại ước tính đối với các bậc tiền bối nếu có, nói lên được quá trình hình thành của dòng họ trong không gian, thời gian và hoàn cảnh lịch sử. Từ đời thứ 20 trở đi, thêm vào những chi tiết như: năm sinh, năm mất, trình độ học vấn, nghề nghiệp và nơi cư trú lâu nhất, một số nét nổi bật trong tiểu sử nếu có.
Người cháu xa đời viết lời dẫn luận này cùng có một hoàn cảnh tương tự như anh Đặng Văn Trình, nghĩa là không còn con trai nỗi giõi và thuộc lớp người thất truyền như gia phổ Việt Nam vẫn ghi. Nhưng nghĩ rằng không còn con trai thì đã có anh em, có cháu chắt mang dòng họ, nên Đặng Văn Trình đã có công biên tập gia phổ dọ Đặng Đại Tôn Nho Lâm bằng chữ quốc ngữ và Đặng Văn Miêu tư nguyên biên tập gia phổ tiểu chi Đặng Văn với đề cương cải tiến chút ít, với mục đích duy nhất là góp phần giữ gìn được truyền thống dòng họ và với hy vọng tha thiết là con cháu chúng ta sẽ kế tục làm cho dòng họ Đặng Văn ngày càng rạng rỡ trên phương diện đạo đức, học vấn và cống hiến cho xã hội, cho Tổ quốc.
Mong lắm thay !
Hà Nội, ngày 10-10-1990.
Cháu xa đời,
ĐẶNG VĂN MIÊU