Tư liệu thứ sáu (viết năm 1912)
Đặng Văn Trình dịch nghĩa
Gia phổ cũng như quốc sử, để ghi chép sự việc. Có Tổ tiên tích lũy hàng trăm ngàn năm mới có được như ngày nay. Tuy lời nói việc làm đời trước, tai không nghe mắt không thấy, nhưng đức dày công lớn của người xưa, nhờ phổ ký cũng tưởng mà thấy rõ ràng. Mở phổ ký ra, khiến người đọc có cảm tưởng như Tổ tiên còn đó, gây tình thân thiện hòa mục với nhau.
Hệ thống họ ta, phát tích từ trấn Sơn Nam Thượng, nay là hạt Hà nội, Chương Đức, theo cựu phổ truyền lại, dời vào thôn Hưng Lệ, rồi lại vào xã Tùng Lâm, lâu đời xa xôi mờ mịt, khó lòng tra cứu. Nay chỉ còn sáu, bảy ngôi tổ mộ, hàng năm cùng chi Thanh Tân tế tảo, thực là thiếu sót đáng cảm xúc vậy.
Trước đây, cụ thân sinh tôi, cùng các vị thân sĩ trong họ, có soạn gộp thế hệ ba chi, chép thành bốn bản, một bản giữ chung, ba chi mỗi chi giữ một bản, có ý để được lâu dài.
Ôi! đất Nam Dương, Cao Mật, dòng hoa trụ dạt dào, xe Chấn ngựa Khôn (1), lớp sau nối nghiệp người trước, họ ta hơn hai chục đời người, ngót ba trăm năm, nhờ nền tốt Tùng Thanh, gần đây càng rõ. Từ nay về sau, thấm suối thơm làng Nguyệt Tĩnh, hưởng phúc cả xã Tùng Lâm, tiếp tục sự nghiệp của Tiên Liệt ở Sơn Nam thuở trước, đó là điều mong mỏi hàng ngày.
Ngày 11 tháng 4 năm Nhâm Tý (1912)
Niên hiệu Duy Tân thứ 7
Cháu xa đời
Tứ đệ nhị giáp Tiến sĩ Đình nguyên xuất thân, cáo thụ Trung thuận Đại phu, Hồng lô tự khanh, Quốc tử giám Tế tửu hưu dưỡng, Mã phong Đặng Văn Thuỵ bái đề.
(1) Ngựa phương Tây, xe phương Đông, chữ trong sách địa lý, ý nói đất huyệt có ngựa có xe, sẽ phát khoa hoạn.