Thời đại và địa bàn phát tích của họ Đặng – Nho Lâm

Thời đại và địa bàn phát tích của họ Đặng – Nho Lâm

Đất Việt Nam, từ thời Hùng Vương dựng nước đến ngày nay, đã có mấy ngàn năm lịch sử. Riêng tại làng Nho Lâm, những cuộc khai quật khảo cổ học do một tập thể giáo sư và sinh viên khoa Sử trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội tiến hành trong mùa hè năm 1975 trên cánh đồng Mỏm ở chân núi Mã Yên (Rú Ta) đã cho thấy nhiều ngôi mộ cổ, nhiều đồ dùng gia đình, nồi hông nấu quặng luyện sắt, dụng cụ lò rèn, lưỡi cày, lưỡi cuốc, rìu, kiếm, dao, mũi giáo … của người xưa. Những phát hiện này chứng tỏ là trên quê cha đất tổ của chúng ta đã có cư dân sinh sống từ thời đại đồ sắt Đông Sơn, nghĩa là từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ I trước Công Nguyên.

Thế nhưng dân Nho Lâm xưa vẫn truyền tụng rằng ông Non, thuỷ tổ họ Cao, cùng ông tổ họ Đặng là Đặng Tiến Công là những người đầu tiên đến khai phá và sáng lập ra làng Tùng Lâm, về sau là làng Nho Lâm. Và mãi đến thế kỷ thứ XVII, họ Đặng chúng ra mới có bản gia phổ thành văn đầu tiên do ông sinh đồ Đặng Quang Xán sưu tập và biên soạn, trong đó Đặng Thừa Thiệu là “thuỷ tổ” họ ta, quê xứ Sơn Nam Thượng (?) có mặt ở Đồn Kiều (Anh Sơn) khoảng năm 1450 và Đặng Tiến Công là cháu 6 đời hiện diện ở Nho Lâm khoảng năm 1570. Năm 1890, nhân ra thăm nhạc phụ Cao Xuân Dục làm tri phủ Ứng Hoà, Đặng Văn Thuỵ mới biết Nam Sơn Thượng thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông và về bái yết từ đường họ Đặng ở Lương Xá. Trong một bản thuật ký, Đặng Quang Bỉnh kể lại rằng năm 1876 lý trưởng Đặng Trọng Cầu nhân đi việc công vào tỉnh có gặp viên quan bố chính là Đặng Văn Huấn người tỉnh Quảng Trị. Ông Huấn nói: nghe tiền nhân cho biết Đồn Kiều là nơi phát tích Tổ tiên họ Đặng Quảng Trị và cùng đều dòng dõi Nam Dương (Trung Quốc) cả, không biết thực hư việc này ra sao ? Sự thể này đang là một nghi vấn thì, năm 1972, Đặng Văn Trình được đọc gia phổ họ Đặng Bạch Ngọc (Anh Sơn) và thấy có ghi chép rằng: Thuỷ tổ họ Đặng là Đặng Phúc Thông, người Trung Quốc, xứ Nam Dương sang Việt Nam lập nghiệp ở Hải Dương, vào thời điểm nào thì không rõ : có thể là vào cuối đời Trần, lúc đang xảy ra nhiều biến cố lịch sử cực kỳ rối ren : Triều Trần từ Phế Đế đến Thiếu Đế (1377 – 1400), Triều Hồ (1400 – 1407), Hậu Trần với Giản Định và Quý Khoáng (1409 – 1413) và thuộc Minh 14 năm (1414 – 1427), nếu Đặng Minh Bích đúng là cháu 4 đời của Đặng Phúc Quang và đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Giáp Thìn (1484) triều Lê Thánh Tông.

Gia phổ họ Đặng Bạch Ngọc lại cho biết là cong cháu Đặng Phúc Thông về sau chia làm hai chi : chi trưởng di cư về Nam Định, chi thứ hai vào thẳng xã Bạch Đường, phủ Anh Sơn, Nghệ An, chứ không phải di cư về Hà Đông (Lương Xá) sau đó phát triển thêm vào Nghệ An như ghi chép trong một số gia phổ khác.

Ngoài ra Đặng Văn Trình còn so sánh đối chiếu giữa con cháu ông Minh Châu – chi thứ hai họ Đặng Bạch Ngọc với con cháu ông Đặng Thừa Thiệu – họ Đặng Nho Lâm – và nhận thấy có nhiều trùng hợp đáng làm cho chúng ta phải suy nghĩ : hoàn cảnh và lý do di cư như nhau, thời gian di cư cùng một lúc, phần mộ của tổ tiên để cùng một nơi … Vì vậy Đặng Văn Trình cho rằng Đặng Thừa Thiệu có thể là một trong bảy người con còn lại của Đặng Minh Bích chưa xác minh được tên huý, hậu thế, phần mộ … vì gia phổ nhiều chi họ Đặng Bạch Ngọc đã bị đốt cháy trong loạn lạc giặc dã.

Trên đây là những vấn đề mà chúng ra phải tham khảo thêm gia phổ các họ Đặng ở Hà Đông, ở Hà Nam Ninh và ở các tỉnh khác cùng với sử liệu lưu trữ ở nhiều nơi thì mới phân giải được và góp phần làm cho Tổ tích họ Đặng chúng ta thêm sáng tỏ. Đó là một công việc khó khăn, lâu dài đỏi hỏi sự tham gia của con cháu tự nguyện và nhiệt tình đối với dòng họ.

Trong lúc chờ đợi, chúng ta tạm bằng lòng với bản gia phổ cha ông chúng ta để lại, bắt đầu từ “Thuỷ tổ” Đặng Thừa Thiệu.