Lời nói đầu Gia phổ họ Đặng Nho Lâm

Lời nói đầu Gia phổ họ Đặng Nho Lâm

Tư liệu thứ tám (viết năm 1980)
của Đặng Văn Trình viết năm 1980

Nước có nguồn, cây có gốc, con người có Tổ tông. Nguồn dài nước lớn, gốc tốt ngọn tươi, Tổ tông tích đức lâu đời, con cháu ngày càng thịnh vượng.

Sách xưa dạy: “Uống nước phải nhớ nguồn, yêu nòi chớ quên Tổ”. Vì thế, từ xưa, họ nào cũng có gia phổ.

Gia phổ cũng như quốc sử để ghi chép sự việc đời trước. Nước không có quốc sử, thì sự nghiệp vĩ đại của các vị Anh hùng dân tộc, nay không còn ai biết mà nhắc đến. Họ không có gia phổ thi công phu gây dựng khó nhọc của Tổ tông, nay con cháu không biết đâu mà dà tìm. Bởi vậy, nước phải có sử và họ phải có gia phổ.

Nguồn gốc họ ta, theo bản thủ biên của ông sinh đồ Đặng Quang Xán, viết năm Bính Ngọ (1666) đời Lê Huyền Tông Cảnh Trị năm thứ 3, thì thủy tổ ĐẶNG THỪA THIỆU, nguyên quán ở xã Sơn Nam Thượng, huyện Chương Đức, Hà Đông, bị giặc dã phiêu dạt vào trang Sa Lễ (nay là thôn Hưng Lễ), xã Nguyệt Tỉnh, huyện Hưng Nguyên, phủ Anh Đô, tỉnh Nghệ An (Đồn Kiều). Đến đời cháu là Đặng Ngôn, sinh được hai con trai rồi mắc vạ. Người anh là Đặng Thái, dời xuống xã Cổ Phần (nay là Cổ Văn), đến cháu là Đặng Tiến Công lại dời ra Nho Lâm. Người em là Đặng Thông dời lên xã Thanh Tân (nay là xã Hiến Sơn). Tuy phải dời đi mỗi người một nơi, nhưng phần mộ Tiền nhân vẫn để lại ở Đồn Kiều. Từ đó đến nay, hằng năm đến ngày Thanh minh, cả hai chi Nho Lâm và Thanh Tân đều về Đồn Kiều tảo mộ, rồi về từ đường Thanh Tân hợp tế. Đã hơn hai trăm năm nay vẫn giữ nguyên lễ ấy cho mãi đến bây giờ.

Việc tu soạn phổ ký, cả hai chi đều có người lưu tâm biên tập. Về chi Nho Lâm, năm 1666, Bính Ngọ, ông sinh đồ Đặng Quang Xán soạn chép từ Thủy tổ Đặng Thừa Thiệu đến ông Đặng Tiến Công. Hơn 200 năm sau, năm 1889, Kỷ sửu, các ông tú tài Đặng Quang Bỉnh, thí sinh Đặng Duy Bác, Đặng Danh Mô , Đặng Trọng Cán, v.v… kế tục tiếp vào bản này, tham khảo gia phổ các tư gia, đối chiếu chúc thư, khế ước của các ông Đặng Bá Cương, Đặng Quang Tán, Đặng Trọng Quán, soạn thành bản “Nho Lâm Đặng Đại tôn tộc phổ”, chép từ ông Đặng Tiến Công đến đội thứ 17. Đến năm 1912, Nhâm Tý, hai ông tú tài Đặng Văn Vỹ và Đặng Kim Kính lại tiếp tục chép thêm hai đời mười tám và mười chín.

Về chi Thanh Tân, ngày 11 tháng 12 năm Tự Đức thứ 11 (Mậu Ngọ – 1858), ông tỉnh bằng tổng giáo Đặng Văn Giai đã hợp đồng khảo cứu với hai ông tú tài Đặng Duy Tường ở Nho Lâm và tú tài Đặng Xuân Dục ở Thanh Hóa để soạn thành bản “Thanh Tân Đặng tộc phổ ký“.

Nhờ công sưu tầm biên soạn của các vị tiền bối trên, nên hệ thống họ ta được rõ ràng rành mạch, hơn hẳn các họ phát tích đồng thời ở địa phương.

Tuy vậy, từ trước họ chỉ biết thủy tổ từ xứ Sơn Nam Thượng bị giặc dã phiêu dạt vào Đồn Kiều, còn thủy tổ thuộc dòng phái nào? xứ Sơn Nam Thượng là ở đâu? thì như lời Tựa của cố tôi, cụ tú tài Đặng Quang Bỉnh, đã viết: “Thế viễn ngôn yên, di tích bất khả tường khảo” (Đởi đã xa xôi mở mịt, di tích khó lòng khảo cho tường được).

Tuy năm Nhâm Ngọ (1882), ông nội tôi, cụ Hoàng giáp Đặng Văn Thụy, thời đó đỗ cử nhân, nhạc đường là cụ Long Cương Cao Xuân Dục đang làm tri phủ Ứng Hòa, nhân tiện ra thăm và cũng có ý định dò tìm Tổ tích, được gặp hai ông nha thuộc người cùng họ ở chi Lương Xá là Đặng Đình Tấn và Đặng Đình Cửu, hồi thăm mới biết Sơn Nam Thượng là hạt Thương Tín, Ứng Hòa, Hà Nội và họ Đặng ở đây chỉ có một phái ở Lương Xá phân ra mà thôi. Hai ông lại đưa cụ về bái yết từ đường ở Lương Xá thở vị Trung hưng tứ phối công thần Nghĩa quốc công Đặng Huấn. Nhân xem phổ ký, thấy chép cháu bốn đời của Ngài là Yến quận công Đặng Tiến Thự, được ban quốc tính là Trịnh Liễu, làm trấn thủ Nghệ An 24 năm, lấy một bà thiếp người Nghệ, sinh ra một chi ở lại quê mẹ Nghệ An, nhưng không rõ về sau đó thế nào? Thấy vậy, ông tôi cho rằng: thủy tổ chúng ta là con bà thiếp của Yến quận công ở lại quê mẹ, từ đó họ Đặng Nho Lâm cũng nhất trí cho nhận định này là đúng.

Ngày nay, nối chí tiền nhân, chúng tôi tiếp tục dò tìm tổ tiên. Nhân khảo cứu quốc sử, chúng tôi thấy sách Lịch triều tạp kỷ (bản dịch của khoa Sử, tập I trang 151) có chép rằng: tháng 1 năm Mậu Dần (1690), trấn thủ Nghệ An Yến quận công Trịnh Liễu chết. (Đoạn sau có cước chú nói rõ: Trịnh Liễu chính tên là Đặng Tiến Thự, con Doanh quận công Đặng Thế Tài, cháu Hà quận công Đặng Thế Vinh, chắt Nghĩa quốc công Đặng Huấn và bố đẻ ra tiến sĩ Ứng quận công Đặng Đình Tướng, Trịnh Liễu là tên đổi sang do được ban quốc tính). Thấy sử ký chép rõ ràng như vậy, chúng tôi khẳng định rằng Đặng Tiến Thự là người cùng thời với Đặng Quang Xán (đỗ sinh đồ năm 1666) không thể đã sinh ra thủy tổ Đặng Thừa Thiệu của chúng ta được. Lại còn một chứng cớ nữa là: Khoa phổ của họ chép rằng ông Đặng Minh, hiệu Trung Xuyên, người xã Hạnh Lâm, đỗ tiến sĩ khoa Quý Mùi (1703), sau khi đó, ông sang từ đường Nho Lâm tế Tổ nhận họ. Đến khi ông mất, họ sao thụy hiệu của ông về tế như bậc tiên hiền cho đến nay. Việc này chứng tỏ khi ông Đặng Tiến Thự làm tổng trấn Nghệ An thì họ Đặng Nho Lâm đã tồn tại từ lâu đời rồi vậy.

Thấy nhận định về tổ tích trên đây chưa đúng, chúng tôi đành phải dò tìm về hướng khác. Năm 1972, sau khi đã dời phần mộ của Tiền nhân ở Đồn Kiều đưa về nghĩa địa Thanh Tân, nhân thấy tại nhà ông tộc trưởng Thanh Tân có một bản sao gia phổ chi thứ hai họ Đặng Bạch Ngọc, trong đó đoạn có liên quan đến phần mộ ở Đồn Kiều, nên họ có cử một số anh em cùng đi với các chi Thanh Tân, Quang Trạch, Xuân Sơn, Vĩnh Bình lên Bạch Ngọc để dò tìm. Chúng tôi đến từ đường Bạch Ngọc, gặp ông tộc trưởng và có mời các cụ phụ huynh trong họ đến họp để nói chuyện và hỏi dò. Các cụ có đưa gia phổ cho xem thì cũng y nguyên như bản sao để lại nhà ông tộc trưởng Thanh Tân. Bản này chép rằng: Thủy tổ là ĐẶNG PHÚC QUANG, vốn người Trung Quốc sang Việt Nam, đến tỉnh Hải Dương buôn bán lập nghiệp, sinh hai người con trai là Đặng Trọng Tuân và Đặng Trọng Trân. Sau ông Đặng Trọng Trân vào lập nghiệp ở xã Bạch Đường, phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An và sinh ra ông Đặng Minh Bích – Ông Đặng Minh Bích đỗ tiến Sĩ khoa Giáp Thìn (1484) đời Lê Thánh Tông Hồng Đức. (Tác phẩm của ông hiện còn hai chục (20) bài thơ chép lại trong quyển “Toàn Việt Thi Lục” của Lê Quý Đôn). Ông sinh được tất cả 9 người con trai:

1 – Đặng Minh Ngọc
2 – Đặng Minh Châu
3 – Đặng Minh Tấn
4 – Đặng Minh Hoàn
5 – Đặng Minh Điền
6 – Đặng Minh Định
7 – Đặng Minh Ngoạn
8 Đặng Minh Hiệu
9 Đặng Minh Liễn.

Tiếc rằng phổ ký của họ Đặng Bạch Ngọc, năm Bính Tuất (1886) bị giáo dân đốt cháy từ đường, cháy luôn cả phổ ký, chỉ chạy được mấy tờ, chép về chi thứ hai tức là con cháu ông Minh Châu. Còn chi trưởng, ông Minh Ngọc, và bảy chi sau đều cháy hết, thất truyền.

Theo bản này, ông Đặng Minh Châu đỗ giám sinh, làm quan đến Lại bộ Tả thị lang, kiêm cấp Sự trung, sau vị tránh loạn họ Mạc, bỏ quan về khai hoang ở Đồn Kiều, cùng một nơi và một thời với ông Đặng Thừa Thiệu. Ông Minh Châu sinh Trọng Minh, ông Minh sinh Trọng Trí, ông Trí sinh Trọng Huyên, ông Huyên sinh Chân Trực, ông Chân Trực dời ra Quang Trạch dạy học, sinh ra Phúc Định (Quang Trạch), Trọng Tích (Xuân Sơn), Thiện Đạo (Vĩnh Bình) và Trọng Quán (Nho Lâm và Kim Khê). Nay tra cứu gia phổ các chi thì ba chi trên (Quang Trạch, Xuân Sơn và Vĩnh Bình) hoàn toàn đúng, riêng Trọng Quán ở Nho Lâm và Kim Khê thì sai. Tuy rằng thủy tổ họ Đặng Nho Lâm không phải là ông Đặng Trọng Quán, con thứ tư ông Đặng Chân Trực, mà là Đặng Tiến Công, con Đặng Nhân Thời, cháu sáu đợi Đặng Thừa Thiệu ở Đồn Kiều, nhưng nay tham khảo đổi chiếu gia phổ các chi Bạch Ngọc, Thanh Tân, Quang Trạch, Xuân Sơn, Vĩnh Bình và Nho Lâm thì có thể rút ra được một số điểm sau đây cần lưu ý:

1) Từ ông Minh Châu đến ông Phúc Định (Quang Trạch) là 6 đời. Từ ông Thừa Thiệu đến ông Tiến Công cũng 6 đời. Cả hai chi kể từ các ông Minh Châu và Thừa Thiệu đến thế hệ hiện nay đều được 21 đời. Như vậy có thể khẳng định rằng hai ông Minh Châu và Thừa Thiệu là người cùng một thời, xuống khai hoang ở Đồn Kiểu cùng một lúc.

2) Phần mộ các ông Minh Châu, Trọng Minh, Trọng Trí, Trọng Huyên cùng với phần mộ các ông Thừa Thiệu, Đặng Nghi, Đặng Ngôn đều ở xứ Lùm Lác, đồi núi Lĩnh (Đồn Kiều). Trước đây hai chi Nho Lâm và Thanh Tân tảo mộ ở Đồn Kiều chỉ có 7 ngôi, nhưng năm 1972 dời về nghĩa địa Hiển Sơn có tất cả 32 ngôi, kể cả chi họ Bạch Ngọc.

3) Ông Minh Châu làm Lại bộ Thị lang, ông Thừa Thiệu làm Lại bộ đường Điền lại, hai ông đều vì tránh loạn mà xuống khai hoang ở Đồn Kiều, nên có sự phối hợp gắn bó như vậy. Do đó, chúng tôi rất ngờ rằng ông Thừa Thiệu là một trong chín con trai của ông Minh Bích. Nhưng phố ký chép lại, chỉ ghi tên thuỵ mà không ghi tên huý, nên không giám cưỡng hợp.

Lại khảo về chín con trai của ông Minh Bích, Minh Ngọc là con trưởng, chắc hẳn con cháu là chi Bạch Ngọc ở lại quán lý từ đường, Minh Châu là con thứ hai, nay con cháu là các chi Quang Trạch, Xuân Sơn, Vĩnh Bình, Quảng Hà Còn lại bẩy ông là Minh Tấn, Minh Hoàn, Minh Điền, Minh Định, Minh Ngoạn, Minh Hiệu và Minh Liễn, không rõ con cháu về sau thuộc chi nào, ở đâu? Nếu như nhận định trên mà đúng thì không biết Thừa Thiệu là ông con thứ mấy?

Theo suy nghĩ của chúng tôi thì: hoàn cảnh và lý do di cư giống nhau, thời gian di cư cùng một lúc, phần mộ lưu lại cùng một nơi, nên mặc dầu không có tài liệu chép rõ cũng có thể khẳng định là có quan hệ khăng khít, không anh thì em, không chú thì bác, không thể không có liên hệ gì với nhau được.

Trở lại vấn đề, đúng như các cụ tiền bối đã nói: “Thế viễn ngôn yên, di tích bất khả tường khảo”, tuy đã cố gắng hết sức mình, chúng tôi vẫn chưa xác minh được thủy tổ Đặng Thừa Thiệu phát tích từ đâu ? thuộc chi phái nào ? Chúng tôi đành phải sao chép lại những bài Tựa của gia phố các chi Nho Lâm, Quang Trạch, Vĩnh Bình, Thanh Tân để lại cho người sau tham cứu. Còn bài Tựa gia phổ bọ Đặng Lương Xá do nhà văn hào Ngô Thì Nhậm đề, hiện còn có đủ ở Thư viện khoa học xã hội Hà nội, và chưa có điều kiện nên tôi chỉ được xem mà chưa sao được. (Gia phổ này có ba tập, hai tập đầu do Đô đốc Tây Sơn Đặng Tiến Đông viết, tập thứ ba do Đặng Trần Thường viết).

Công việc dò tìm tổ tích là nhiệm vụ chung của tất cả chúng ta. Đã hơn 300 năm nay, kể từ ông sinh đồ Đặng Quang Xán đến các vị kế tiếp sau, thế hệ nào cũng có người lưu tâm tìm kiếm biên soạn, nên gia phổ họ ta được rõ ràng rành mạch hơn các họ phát tích đồng thời ở địa phương.

Kế tục công việc của các vị tiền bối, sao dịch bản này, chúng tôi tha thiết mong rằng sau đây trong con cháu sẽ có người lưu tâm tầm khảo, bổ sung chỗ sót, đính chính nơi sai, làm cho bản tộc phổ ngày càng được chính xác để con cháu đời đời biết và nhớ đến công đức to lớn của Tổ tiên lưu lại cho. Được như thế, thực chúng tôi vô cùng toại nguyện.

Viết tại từ đường, ngày 10 tháng giêng năm Canh Thân
(tức ngày 25 tháng 2 năm 1980)
Cháu xa đời thuộc chi Thanh Kiều,
Đặng Văn Trình cẩn chí