Tư liệu thứ tư (viết năm 1888)
Đặng Văn Trình dịch nghĩa
Muôn dòng ngàn lạch, nước chung một nguồn
Muôn lá ngàn cành, cây chung một gốc.
Nguồn dài nước lớn, gốc tốt ngọn tươi. Hòe sân Vương, cây thềm Tạ là nhờ đâu? Há chẳng phải Tổ tiên tích đức để lại cho sao?
Tiên đại họ ta, trước thì ở Chương Đức – Lương Xá, sau lại vào Anh Đô – Hưng Nguyên, khoảng bốn, năm đời xa xôi mờ mịt, di tích khó lòng khảo cho tường tận. Hiện nay, chỉ còn bảy ngôi Tổ mộ ở xứ Lủm Lác, đồi Núi Lĩnh, thôn Hưng Lệ là còn nguyên.
Tiên tổ chúng ta là Trung Tín Công (Đặng Tiến Công), thích phong thổ tươi đẹp xã ta, di cư ra ở, nhân đó tìm được đất hay ở Tùng Lâm, đưa di hài Ông, Bà, Cha, Mẹ ra mai táng ở Cồn Lim (ông và con ở giữa, còn bà ở đông nam mộ). Từ đó đến này, con cháu ngày càng đông thịnh, khoa bảng kế tiếp, thực công ơn để lại cho con cháu lâu dài và sáng tỏ vậy.
Chạnh nghĩ: “Giặc dã bất thường, văn hóa kém cỏi, tức như gia phổ cũ đã chép: Bị giặc dã phiêu cư. Năm chữ ấy thực là khó hiểu!”. Mãi đến năm Nhâm Ngọ (1882) mới hỏi được rõ ràng. Tuy vậy, chỉ biết tôn hệ từ trước từ đâu đến, còn sinh hạ về sau, ghi chép rất sơ sài! Ôi ! Giống nòi tươi tốt, lồng lộng phương trời, ngày tháng càng xa, ghi biên càng lạc, đến sử cũng thiếu sót, thực đáng cảm xúc vậy! Vì thế, họp cả ba chi lại, cử ra mỗi chi một người kiểm soát. Trong đó, chi thứ nhất (Sơn Đầu) còn ba bốn đời chưa tỏ, còn phải khảo lại, còn hai chi, từ Trung Tín Công về sau, xa thì theo bản thủ biên của ông Sinh đồ, gần thì khảo tư phổ của các tư gia, tổng hợp soạn thành bản chung toàn họ, giao ba chi, mỗi chi giữ một bản. Tựu trung, chỗ nào khuyết, đành chép sơ lược, chỗ nào còn, chép được tinh tưởng hơn. Mong rằng từ nay về sau, con cháu những người có học, nên nhân đây bổ sung cho rộng ra, tiếp tục sắp xếp lại cho tường tất, để đời đời biết công đức Tổ tiên truyền lại đã lâu dài.
Mong lắm thay: Ấy là lời Tựa.
Ngày 10 tháng 10 năm Đồng Khánh thứ ba (Mậu Tý 1888)
Cháu xa đời
Chi Thanh Kiều: Tú Tài Đặng Quang Bỉnh cẩn soạn
Chi Sơn Đầu: Thí sinh Đặng Duy Bác
Chi Hoè Thị: Thí sinh Đặng Danh Mô
đồng hiệu đính