Tư liệu thứ hai (viết năm 1870)
(Đặng Văn Trình dịch nghĩa)
Họ có Phổ như nước có Sử, vì sử là để biên chép việc thịnh suy của một nước, phổ là để ghi thế hệ của một dòng họ, thực là có quan hệ mật thiết với nhau vậy.
Tiền đại họ Đặng ta, trước đây không biết phát tích từ đâu ? Cư trú nơi nào ? Gần đây, nhờ Tiên Đồng bói ra mới biết phát tích từ Hải Dương. Khoảng từ đời Lê Hồng Đức (1469 – 1497) bị loạn ly phiêu dạt, di cư vào thôn Quang Trạch, huyện Đông Thành. Từ đó, nhờ giang sơn phù hộ, con cháu ngày càng đông thịnh, sinh hạ bốn chi: Thần chủ chi thứ nhất do Đặng Khắc Bình phụng tự, chi thứ hai do Đặng Khắc Cân phụng tự. Tuy con cháu có người thiên cư nơi khác (Ngọc Lâm, Vĩnh Bình), nhưng đến ngày hợp tế (rằm tháng bảy) đều về tụ tập ở từ đường, việc tế tự rất trang nghiêm, đã không lạc thực như Nguyên Bá, cũng chẳng quên Tổ như Tịch Đàm. Do đó miếu trụ oai nghiêm, tường nhà chạm trổ. Năm Khải Định thứ hai được phong sắc hàm:
Bản cảnh khai canh, Nậm trứ linh ứng,
Dực bảo Trung hưng, linh phù tôn Thần.
Đến năm Khải Định thứ ba được tặng thêm hai chữ: “Đoan Trực”, thực là:
Ơn nước ơn dân, ngàn năm còn đó
Công Tông đức Tổ, muôn thuở chẳng dời.
Ngày nay, xã hội trùng tân, phong trào nhật tiến, nhưng nguồn nước, gốc cây, tằng nguyên tôn thống, con cháu được vui vầy ca hát, hớn hở múa may, kẻ do đường tổng lý, vẻ vang nhờ sắc thụ ơn sâu, người do hương đảng lập thân, khoan khoái hưởng đinh tài phúc cả. Được như vậy, thực nhờ công vun đắp của Tổ tiên. Nay sắp xếp thu dọn, soạn thành phổ ký, thế thứ trên dưới, liệt kê ở sau.
Ngày rằm tháng ba năm Canh Ngọ, niên hiệu Tự Đức thứ 24
Tộc trưởng
Đặng Khắc Cân phụng sao